Viêm Amiđan là một trong những bệnh tai mũi họng thường gặp ở trẻ em và người lớn. Viêm amiđan có thể là viêm cấp, viêm amiđan cấp tái hồi, viêm Amiđan mạn, viêm tấy hoặc áp xe quanh Amiđan.
Viêm amiđan là một bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng và di chứng nguy hiểm. cần phải được điều trị sớm, nên bắt đầu bằng điều trị thuốc trong trường hợp viêm Amiđan cấp họặc đợt cấp tái hồi của viêm Amiđan mạn , mỗi đợt dùng thuốc khoảng 10 ngày do các BS Tai Mũi Họng điều trị và theo dõi. Cắt Amiđan là phương pháp điều trị hữu hiệu khi được chỉ định chính xác nhằm lọai bỏ tổ chức Amiđan không còn vai trò miễn dịch và trở thành một ổ viêm chứa đầy các lọai vi khuẩn hoặc quá phát bít tắc hô hấp trên hoặc nghi ngờ phát triển thành u ác tính.
Cụ thể, nên cắt amiđan trong các trường hợp sau đây:
Amiđan cần được xem xét phẫu thuật cắt bỏ khi có một trong những tình trạng sau đây:
– Hội chứng ngừng thở khi ngủ do amiđan gây chèn ép đường thở.
– Amiđan quá phát gây khó nuốt, nói ngọng, ngủ ngáy.
– Amiđan viêm mạn tính bộc phát cấp tính trên năm lần trong một năm.
– Viêm amiđan có biến chứng áp xe quanh amiđan, thấp tim, viêm khớp, viêm thận.
– Viêm amiđan mạn hốc mủ, có bã đậu gây hôi miệng thường xuyên.
Về lứa tuổi, chỉ cắt amiđan khi trẻ trên 8 tuổi (trừ trường hợp dưới 8 tuổi nhưng amiđan quá lớn gây khó ngủ, ngưng thở), cắt quá sớm sẽ giảm khả năng miễn dịch. Người lớn không giới hạn tuổi, có thể ở tuổi 50-60. Nhưng ở người có tuổi, mạch máu bị xơ nên khi cắt khả năng chảy máu. Không cắt amiđan ở người có bệnh máu khó đông như Hemophilie, bệnh nhân đang trong tình trạng viêm nhiễm như mắc bệnh lao, viêm hô hấp, cúm…
Biến chứng thường gặp nhất sau cắt amiđan là chảy máu ngay sau khi cắt, hoặc vài ngày sau bệnh nhân thấy vẫn nhổ ra máu tươi. Thông thường bác sĩ có thể xử trí cầm máu nếu bệnh nhân đến ngay bệnh viện. Sau khi cắt amiđan, bệnh nhân ăn lỏng, nguội, mềm trong khoảng thời gian 10-15 ngày tuỳ theo vết thương lành nhanh hay chậm và có thể nói chuyện bình thường sau khi cắt.
Chú ý: Không được cắt Amiđan ở những bệnh nhân có rối lọan đông cầm máu bẩm sinh hoặc mắc phải ( Hemophilia A, B, C ; suy tủy, xuất huyết giảm tiểu cầu, ung thư máu…)
Trì hoãn cắt amiđan khi bệnh nhân đang có nhiễm khuẩn toàn thân hoặc tại chỗ, có bệnh mạn tính điều trị chưa ổn định (tiểu đường, lao, cường giáp…) hay ở vùng đang có bệnh dịch; phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh…
(Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ)
Viêm amiđan là một trong những bệnh hay gặp trong các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là ở trẻ em. Các bà mẹ thường sốt ruột muốn cho con đi cắt mỗi khi thấy trẻ bị viêm. Vậy amiđan là bệnh gì, có nguy hiểm không và nên cắt amiđan vào thời điểm nào là thích hợp?
Thạc sĩ Lê Công Định, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Bạch Mai đã đưa ra những chỉ dẫn cần thiết để phòng ngừa và điều trị chứng viêm amiđan.
Viêm amiđan là gì?
Amiđan là tổ chức lympho gồm hai khối nằm ở bên thành họng. Amiđan có chức năng miễn dịch, sinh ra các kháng thể và các lympho bào, giúp tăng khả năng chống đỡ của mũi họng với các virus, vi khuẩn gây bệnh. Khi nói đến viêm amiđan có nghĩa là tổ chức amiđan bị tổn thương: Bề mặt đỏ rực, có những chấm mủ trắng, có chất bựa…
Khi nào nên cắt amiđan?
Chỉ cắt amiđan trong những trường hợp sau:
– Khi bị viêm amiđan nhiều đợt cấp (từ 5 – 6 lần) trong một năm.
– Khi viêm amiđan gây nên những biến chứng như: Viêm tai giữa, viêm xoang hoặc các biến chứng nặng như: thấp tim, viêm khớp, viêm cầu thận.
– Trong trường hợp dù không bị viêm nhưng amiđan có kích thước quá to, gây cản trở ăn, uống, thở của trẻ thì cũng nên cắt.
Trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 45 tuổi nên hạn chế cắt amiđan. Đối với trẻ em dưới 5 tuổi, cần được xem xét kỹ lưỡng vì nếu cắt có thể làm ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch của trẻ. Còn với người trên 45 tuổi, cắt amiđan thì dễ bị chảy máu do amiđan bị xơ dính, hoặc còn có các bệnh khác kèm theo như: Bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, đái đường…
Chăm sóc người bệnh sau mổ amiđan
Sau khi cắt amiđan, người bệnh cần tuân thủ những quy tắc sau:
Từ 2 đến 3 ngày sau mổ, bệnh nhân cần kiêng nói chuyện to, ho, khạc nhổ. Sau đó, cần tập phát âm bằng cách nói chuyện nhẹ nhàng.
Đặc biệt, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn uống và vệ sinh răng miệng. Trong khoảng 5 đến 7 ngày sau mổ, bệnh nhân cần được ăn đồ lỏng (sữa, súp, cháo) và nguội. Sau đó, ăn cơm nấu mềm, rồi trở lại chế độ ăn như trước. Đồng thời luôn phải vệ sinh răng miệng sạch sẽ, súc miệng bằng nước muối pha loãng, các dung dịch chống nhiễm khuẩn, nước súc miệng…
Sau khi cắt amiđan 7 đến 10 ngày có thể bị chảy máu, người bệnh cần đến bệnh viện để bác sĩ khám và có biện pháp cầm máu kịp thời.
Phòng ngừa viêm amiđan như thế nào?
Hạn chế ăn đồ lạnh. Thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, súc họng bằng nước muối pha loãng, đặc biệt trong các đợt dịch cúm, sốt xuất huyết… Tránh hút thuốc, tiếp xúc với khói thuốc lá, nhất là phụ nữ có thai và trẻ em. Chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng, nhiều hoa quả, vitamin C để nâng cao sức khoẻ, tăng cường sức đề kháng.
Khi phải tiếp xúc với môi trường ô nhiễm nhiều khói, bụi, cần đeo khẩu trang kín mũi, miệng để hạn chế bụi xâm nhập vào mũi, họng.
(Nguồn Báo Dân Trí)
Do nằm ở cửa ngõ đường thở nên amiđan rất dễ bị viêm nhiễm. Nguyên nhân gây viêm chủ yếu là bụi, khói than, hóa chất, sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ và độ ẩm (những thay đổi này ảnh hưởng tới sức căng bề mặt màng tế bào biểu mô, khiến vi khuẩn, virus dễ xâm nhập amiđan).
Nhìn chung, viêm amiđan được phân thành 2 loại:
l. Viêm amiđan cấp không đặc hiệu
Biểu hiện trước tiên là đau họng, sốt nhẹ, chảy nước mũi, hắt hơi kèm theo chảy nước mắt; 2 amiđan sưng to, vùng họng viêm đỏ. Xét nghiệm công thức máu thấy số lượng bạch cầu không tăng. Thủ phạm gây viêm trong những trường hợp này thường là virus cúm A, B, C hoặc á cúm (adeno, rhino, herpet).
Bệnh nhân nên hạn chế sử dụng kháng sinh. Dùng một số thuốc điều trị triệu chứng như: chống phù nề, giảm đau, kháng histamin; vệ sinh mũi họng bằng các dung dịch sát khuẩn nhẹ như angispray, eludril, locabiotal, givalex… hoặc nước muối pha loãng.
2. Viêm amiđan cấp tính đặc hiệu do vi khuẩn
Bệnh nhân sốt cao đột ngột, đau họng tăng, thường đau lan tỏa vùng tai, hạch lân cận sưng to, người mệt mỏi, amidan viêm to kèm theo các hốc mủ, miệng hôi, xuất hiện màng giả tại amiđan. Xét nghiệm máu cho thấy số lượng bạch cầu tăng cao, bạch cầu trung tính tăng. Thủ phạm gây viêm thường là các vi khuẩn như liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn (thường có màng giả kèm theo loét hoại tử)…
Để điều trị, bệnh nhân được dùng kháng sinh đặc hiệu thích hợp với nguyên nhân gây viêm. Bác sĩ chỉ có chỉ định phẫu thuật trong trường hợp amiđan viêm mạn tính kéo dài, tái phát thường xuyên hằng tháng, có tiền sử viêm tấy quanh amiđan, xuất hiện hội chứng ngạt thở khi ngủ, viêm cầu thận cấp (chỉ cắt amiđan khi đã điều trị xong bệnh này).
Để phòng ngừa chứng viêm amiđan, nên vệ sinh đường mũi – họng thường xuyên bằng các dung dịch sát khuẩn angisp-ray, eludril, locabiotal, givalex hoặc nước muối pha loãng (NaCl 0,9%)… Tránh dùng nước đá quá nhiều và ra vào phòng lạnh đột ngột, nhất là khi nhiệt độ ngoài môi trường cao. Nên dùng khẩu trang tránh bụi khi làm việc những nơi có mức độ ô nhiễm cao.
TS Nguyễn Hữu Nghĩa, Sức Khỏe & Đời Sống

Viêm amidan mạn tính thường do viêm amidan cấp tính không chữa trị tận gốc, diễn biến lặp đi lặp lại mà có. Biểu hiện chủ yếu là cổ họng hay có cảm giác ngứa, khô nóng, hơi đau. Có khi cảm giác như có dị vật, hôi miệng, sốt nhẹ, tiêu hóa kém, mất sức.